[Kỹ Năng HR] Quy định về thử việc



Những quy định của pháp luật về thử việc người lao động

Điều 26, Điều 27, Điều 28 và Điều 29 Bộ Luật Lao Động năm 2012 (BLLĐ) quy định về thử việc, thời gian thử việc, tiền lương trong thời gian thử việc và các vấn đề liên quan khi hết thời gian thử việc như sau: Người sử dụng lao động và người lao động có thể thoả thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thoả thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.

Nội dung của hợp đồng thử việc gồm các nội dung chủ yếu sau đây: Tên và địa chỉ người sử dụng lao động hoặc của người đại diện hợp pháp; Họ tên, ngày tháng năm sinh, giới tính, địa chỉ nơi cư trú, số chứng minh nhân dân hoặc giấy tờ hợp pháp khác của người lao động; Công việc và địa điểm làm việc; Thời hạn của hợp đồng; Mức lương, hình thức trả lương, thời hạn trả lương, phụ cấp lương và các khoản bổ sung khác; Thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; Trang bị bảo hộ lao động cho người lao động.

Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 1 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây:

- Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên.

- Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.

- Không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.

Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.

Kết thúc thời gian thử việc, khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết HĐLĐ với người lao động.

Trong thời gian thử việc, mỗi bên có quyền huỷ bỏ thoả thuận thử việc mà không cần báo trước và không phải bồi thường nếu việc làm thử không đạt yêu cầu mà hai bên đã thoả thuận.

Hành vi không được làm khi giao kết, thực hiện HĐLĐ

Điều 20 BLLĐ quy định những hành vi người sử dụng lao động không được làm khi giao kết HĐLĐ như sau:

- Giữ bản chính giấy tờ tuỳ thân, văn bằng, chứng chỉ của người lao động.

- Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.

Trường hợp bà Nguyễn Thị Trang phản ánh, do hợp đồng thử việc chỉ thỏa thuận mức lương thử việc, mà không thỏa thuận mức lương sau khi đạt yêu cầu thử việc, nên khi thực hiện xong hợp đồng thử việc, hai bên công ty và người lao động không đạt được thỏa thuận về tiền lương để ký HĐLĐ, thì bà Trang có quyền nghỉ việc mà không cần phải báo trước. Công ty phải thanh toán ngay tiền lương cho thời gian bà Trang đã làm việc, trả lại ngay toàn bộ số tiền ký quỹ mà bà đã nộp cho Công ty.

Đối với hợp đồng thử việc mà công ty đã ký với bà Trang có những vấn đề sau:

- Về thời gian thực hiện hợp đồng thử việc, căn cứ quy định tại khoản 2, Điều 27 BLLĐ, mặc dù bà Trang có trình độ đại học, nhưng thử việc với công việc có chức danh cần trình độ chuyên môn trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, nên thời gian thử việc chỉ yêu cầu  30 ngày, trong hợp đồng công ty yêu cầu thời gian thử việc 60 ngày là trái quy định. Hành vi này của công ty nếu bị phát hiện sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm b, khoản 2 và khoản 3, Điều 6 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng và buộc trả đủ 100% tiền lương cho người lao động trong thời gian thử việc.

- Về khoản tiền ký quỹ khi ký hợp đồng, căn cứ khoản 2, Điều 20 BLLĐ, việc công ty yêu cầu bà Trang phải thực hiện biện pháp đảm bảo bằng tiền (ký quỹ) để thực hiện hợp đồng thử việc là trái pháp luật. Hành vi này của công ty nếu bị phát hiện sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại điểm b, khoản 2 và điểm b, khoản 3, Điều 5 Nghị định số 95/2013/NĐ-CP với mức phạt tiền  từ 20.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng và buộc trả lại số tiền hoặc tài sản đã giữ của người lao động cộng với khoản tiền lãi của số tiền đã giữ của người lao động tính theo lãi suất tối đa áp dụng đối với tiền gửi không kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn luật sư Hà Nội

(nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/)




Tải bản demo